Cây cẩu tích là một trong những cây khá đỗi quen thuộc tại Việt Nam. Loại cây này được biết đến nhiều hơn là cây Lông C Ly, Cù liền hay lông khỉ. Loại cây này được dùng với công dụng trong việc chữa đau lưng, cầm máu, nhức xương khớp vv. Bài viết này Dược Phẩm Tâm An sẽ cùng bạn đi tìm hiểu về tác dụng của cây Cẩu tích.

Cây cẩu tích là một trong những cây thuốc phân bố nhiều ở Việt Nam tại các vùng ven rừng phục hồi sau nương rẫy và trên các tràng cây bụi. Một số tỉnh được phân bố rộng rãi loại cây này phải kể đến là Lào Cai, Hà Giang, Quảng Nam – Đà Nẵng đến Lâm Đồng.
Cây Lông cu ly
Cây Cẩu Đằng hay lông cu ly chính là loại cây thân thảo mọc thấp tại các vùng đồi núi của Việt Nam và nhất là vùng Tây Bắc. Theo nghiên cứu thì loại thực vật này còn được xuất hiện ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á khác.
Cây Cẩu Đằng này có đặc trưng nổi bật với phần rễ có lông tơ vàng bao phủ trông như con chó hay con cu ly. Theo cách hiểu dân gian, Cẩu là chó, Tích là lưng, xương sống. Khi thuốc chưa thái có hình giống lưng của con chó nên gọi là Cẩu tích. Cẩu tích là một cây thuộc họ dương xỉ có thân rễ mọc đứng và thấp với phần rễ được phủ lông vàng nâu bên ngoài. Chiều cao với những cây đã trưởng thành khonagr từ 1-2 mét với các ngọn được bao phủ bởi những sợi lông dài dày đặc, cứng, màu nâu vàng. Các lá uốn thành một chùm ở đỉnh thân cây có dạng hình trứng và hình elip.
Tại Việt Nam cây cẩu tích này thường phân bổ khá rộng rãi và thường mọc ở vùng thung lũng, bìa rừng và ven bờ suối hoặc sông khe thấp ẩm ướt từ 100 đến 1500m. Cây thích nghi tốt với điều kiện ấm áp và ẩm ướt. Nhiệt độ trung bình tối ưu thay đổi trong khoảng 20 đến 23 ° C, lượng mưa từ 1800 đến 2600 mm hàng năm. Nó phát triển mạnh trên đất axit và axit ferralitic màu nâu đỏ nhưng sẽ chịu được đất có tính kiềm nhẹ.
- Tên gọi, danh pháp
- Tên Tiếng Việt: Cẩu tích.
- Tên gọi khác: Rễ lông cu li; kim mao cẩu tích; cây lông khỉ.
- Tên khoa học: Cibotium barometz (L.) J. Sm.
- Họ: Dicksoniaceae.
Bộ phận được sử dụng của cây cẩu tích
Nói đến cây Cẩu Tích thì phần thường dùng chính là thân và rễ cây. Chúng được thu hái để làm dược liệu gọi là lông cu li hay kim mao cẩu tích. Cẩu tích được thu hái vào mùa đông hay mùa hạ. Nếu không sử dụng phần lông, có thể đốt hoặc rang phần thân rễ với cát nóng cho cháy hết lông rồi ngâm nước, rửa sạch, đồ kỹ cho mềm, sau đó thái mỏng, phơi hay sấy khô thuận tiện bảo quản.
Phần mang tính dược liệu của cây Cẩu Tích thường là những đoạn thân hay rễ có màu nâu nhạt hoặc nâu hơi hồng, chiều dài từ 4–10cm, mặt ngoài gồ ghề, lồi lõm, xung quanh có dính ít lông màu vàng nâu, cứng khó cắt và khó bẻ gãy khi khô, vị đắng ngọt. Cẩu tích rất dễ bị mốc nên cần bảo quản nơi khô ráo.

Thành phần hóa học
Trong cây Cẩu tích theo nghiên cứu thì có chứa các hoạt chất như phenolic, dầu dễ bay hơi, sterol, saccharide, glucoside, axit amin, nguyên tố vi lượng như: Sắt, Canxi, Kẽm, Magie, Nitơ, Mangan, Đồng và phospholipid.
Phần thân và rễ có tới 30% là tinh bột và aspidinol, phần lông vàng nâu ở thân rễ có chứa tanin.
Tác dụng của cây Cẩu Tích
Chống virus
Với chiết suất từ thảo dược dến từ thân và rễ của cây cẩu tích. Hàm lượng C. barometz cho thấy là hoạt chất ức chế mạnh mẽ với virus corona liên quan đến hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV) ở nồng độ từ 25 đến 200 μg / mL.
Đặc tính chống ung thư tiền liệt tuyến
Trong cây cẩu tích có hoạt chất Cibotium barometz có tác dụng khá tốt đến việc chống ung thư tuyến tiền liệt LNCaP và PC-3.
Giúp bảo vệ gan
Theo một nghiên cứu gần đây, Onychia thể hiện tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ gan khỏi tổn thương gan do lipid peroxide gây ra ở chuột. Nó làm giảm đáng kể mức độ lipid peroxide malondialdehyde trong gan.
Trong Y Học Cổ Truyền
Cây cẩu tích theo truyền thống đã được sử dụng làm chất chống viêm và giảm đau. Thân rễ và rễ của nó được thu hái để sử dụng làm thuốc, bao gồm cả việc sử dụng làm chất đông máu và điều trị loét, thấp khớp, thương hàn và ho.
Ngày xưa khi chưa có bông y tế thì người dân thường sử dụng phần long vàng của cây cẩu tích làm thuốc cầm máu để đắp vào vết thương hở cầm máu. Ở Việt Nam, thân rễ được dùng làm thuốc chữa phong thấp, đau thắt lưng, đau dây thần kinh tọa, đái dầm và đau mình mẩy ở phụ nữ có thai.

Một số bài thuốc từ cây cẩu tích
Với nhiều công dụng như trên thì từ lâu cây Cẩu Tích đã được áp dụng tạo thành những bài thuốc hiệu quả chữa các bệnh nguy hiểm trong cuộc sống. Một số bài thuốc dưới đây chúng tôi xin chia sẻ cho bạn một số bài thuốc từ cây cẩu tích.
-
Trị tiểu tiện nhiều, đau ngang lưng
Để điều trị bệnh tiểu tiện nhiều và đau ngang lưng bạn chỉ cần sử dụng bài thuốc gồm Đỗ trọng 10 gam, Ngưu tất 10 gam, Cẩu tích 15 gam, Mộc qua 6 gam, Sinh mễ nhân 12 gam. Đem toàn bộ sắc cùng 600 ml nước để cô lại còn 200 ml, chia là 3 lần uống và sử dụng trong ngày
-
Trị chân tay tê buốt do hàn thấp hoặc phong thấp
Với việc điều trị tê bì tay chân do phong thấp thì bài thuộc có thể được thực hiện chính là Thục địa 20 gam, Hổ cốt, Đương quy, Tần giao, Tùng tiết, Quế chi, Tục đoạn, Tang chi, Hải phong đằng, Xuyên ngưu tất, Cẩu tích, Mộc qua mỗi vị 12 gam. Tất cả các vị này có thể đem sắc uống và thêm chút rượu hòa vào để tăng tác dụng.
-
Trị đau nhức lưng, khớp chân khó cử động
Cây Cẩu Tích còn được biết đến với việc trị đau lưng nhức xương khớp. Bạn chỉ cần làm bài thuốc bao gồm Nhục quế, Cẩu tích, Khương hoạt, Đỗ trọng mỗi vị 30 gam, Tang ký sinh 40 gam; Ngưu tất, Tỳ giải, Chế phụ tử mỗi vị 50 gam, rượu trắng 1,5 lít.
Tiến hành: Đem tất cả ngâm cùng 1,5 lít rượu trắng trong thời gian 1 tuần lễ, sau đó bỏ cặn bã lấy phần rượu uống dần.
-
Trị suy gan thận, chân đau do phong thấp
Cây Cẩu Tích còn được biết đến với việc trị bệnh suy gan và đau chân do phong thấp. Bạn chỉ cần Hoàng kỳ, Đan sâm, Cẩu tích mỗi vị 30 gam; Phòng phong 15 gam, Đương quy 25g, Rượu trắng 1 lít. Tiến hành: Đem tất cả ngâm cùng 1 lít rượu trắng trong thời gian 1 tuần lễ, sau đó bỏ cặn bã lấy phần rượu uống dần.
-
Trị mỏi gối, đau lưng do thận âm hư
Bạn cần chuẩn bị Nguyên liệu bao gồm: Phục linh, Đương quy, Cẩu tích, Thỏ ty tử các vị dược liệu với lượng bằng nhau, Mật ong
Tiến hành: Đem tất cả nghiền thành bột mịn thêm mật ong nặn thành viên có khối lượng 9 gam. Ngày uống 3 lần với nước đun sôi để nguội, mỗi lần 1 – 2 viên.
-
Trị chứng di tinh, tiểu nhiều lần, thận hư yếu, đau lưng mỏi gối
Nguyên liệu: Kim anh tử, Dây tơ hồng mỗi vị 8gam; Đỗ trọng 10 gam; Thục địa 12 gam; Cẩu tích 15 gam.
Tiến hành: Đem tất cả các vị sắc uống trong ngày.
-
Trị bại liệt co quắp, chân tay yếu mỏi, đau nhức khớp xương do phong thấp
Nguyên liệu: Bạch chỉ 4 gam; Xuyên khung 4gam; Đương quy 10 gam; Bổ cốt toái, Tục đoạn mỗi vị 12 gam; Cẩu tích 15g.
Tiến hành: Đem các vị sắc uống hằng ngày, chỉ nên dùng mỗi ngày 1 thang
-
Trị chứng khí huyết không đều, tứ chi đau nhức
Nguyên liệu: Thục địa, Hổ cốt, Đương quy, Tùng tiết, Quế chi, Tần cửu, Mộc qua, Cẩu tích, Tang chi, Ngưu tất mỗi vị 12 gam
Đem tất cả sắc lấy nước uống, ngày dùng 1 thang.
Tiến hành: Cho tất cả dược liệu tán thành bột mịn. Sau đó đem dâm dương hoắc sắc lấy nước, hòa với thuốc bột làm thành viên hoàn. Mỗi lần dùng từ 0.3 – 1 gam uống với nước ấm, ngày dùng 3 lần. Nếu cơ thể yếu nên điều chỉnh liều lượng.
Lưu ý khi sử dụng cây cẩu tích
Cây Cẩu Tích từ lâu đã là một vị thuốc quý này được nhiều người sử dụng từ xưa đến nay. Với dược liệu này cũng có độc tính thấp. Tuy nhiên thì những người bị bệnh thận hư thường có nước tiểu vàng không nên sử dụng vị thuốc này.
Bạn cũng nên cân nhắc giữa lợi ích của việc sử dụng cẩu tích với nguy cơ có thể xảy ra trước khi sử dụng chúng. Tham khảo ý kiến chuyên môn của thầy thuốc hay bác sĩ trước khi sử dụng chúng.
Cẩu tích cũng rất có thể tương tác với một số thuốc, thực phẩm chức năng hay dược liệu khác mà bạn đang sử dụng. Để đảm bảo sự an toàn và hiệu quả khi dùng thuốc, bạn nên trao đổi với bác sĩ và thầy thuốc trước khi muốn dùng cẩu tích.